Mỡ bôi trơn công nghiệp, thành phần và tính chất của mỡ bôi trơn

Mỡ bôi trơn công nghiệp, thành phần và tính chất của mỡ bôi trơn

18/11/2016   |   Đăng bởi admin

Mỡ bôi trơn công nghiệp là chất bôi trơn ở dạng bán rắn. Ứng dụng của mỡ dùng để bôi trơn cho các cơ cấu không yêu cầu bôi trơn thường xuyên hoặc tại các vị trí hở yêu cầu sự thất thoát của chất bôi trơn thấp. Bên cạnh đó, mỡ bôi trơn còn có tác dụng bịt kín, tránh sự xâm nhập của nước và các vật liệu không nén được.

Thành phần chính của mỡ bôi trơn bao bồm:

1. Dầu gốc

Dựa vào loại dầu gốc sử dụng để sản xuất mỡ sẽ có sản phẩm tương ứng là mỡ gốc dầu mỏ và mỡ tổng hợp.

2. Chất làm đặc

Chất làm đặc cho mỡ được sử dụng chủ yếu là xà phòng nhũ hóa. Xà phòng nhũ hóa bao gồm Stearat Natri, Stearat Lithium, Stearat Canxi và hỗn hợp của các thành phần này. Ngoài ra, các dẫn xuất của axit béo cũng được sử dụng làm chất làm đặc.

Mỡ bôi trơn chất làm đặc Lithium được sử dụng phổ biến nhất, Mỡ bôi trơn natri và lithium có điểm nóng chảy cao hơn so với mỡ Canxi những khả năng kháng nước lại kém hơn. Mỡ lithium có nhiệt độ chảy giọt tại 190-2200C. Tuy nhiên, nhiệt sử dụng tối đa cho mỡ gốc Lithium là 1200C.

3. Các chất phụ gia

Các phụ gia tạo nên các đặc tính của mỡ như: khả năng kháng lại các tác động của chất oxy hóa, môi trường, khả năng chống mài mòn…

Một số phụ gia thông dụng:

  • Phụ gia ức chế sự oxy hóa
  • Phụ gia chịu cực áp
  • Phụ gia chống ăn mòn
  • Phụ gia chống mài mòn

Tính chất của mỡ bôi trơn

Mỡ bôi trơn silicon

Mỡ bôi trơn silicon

Tính chất của mỡ phụ thuộc chủ yếu vào các thành phần cấu thành nên mỡ bôi trơn.

  • Các tính chất của mỡ đạt được từ các thành phần dầu gốc này cũng có các đặc tính tương ứng từ thành phần dầu gốc như là tuổi thọ, khả năng kháng các tác nhân oxy hóa, độ bám dính…
  • Khả năng chịu nhiệt , khả năng chịu nước và sự ổn định hóa học của mỡ bôi trơn phụ thuộc phần lớn và đặc tính tự nhiên của chất làm đặc và thành phần dầu gốc.
  • Phụ gia là các chất được thêm vào để cải tiến các đặc tính của dầu mỡ bôi trơn nhằm đạt hiệu quả hoạt động như ý muốn. Ví dụ như mỡ bôi trơn chuyên dùng có chứa glycerol và este sorbitan có thể sử dụng bôi trơn trong điều kiện nhiệt độ thấp. Mỡ bôi trơn có chứa các chất bôi trơn rắn như than chì hoặc Disulfide molypden được ứng dụng để bôi trơn cho các cơ cấu truyền động chịu tải trọng nặng.
  • Đồng được thêm vào mỡ bôi trơn sử dụng cho các ứng dụng chịu áp suất cao, hoặc tại các vị trí ăn mòn cao có khả năng cản trở việc tháp lắp các cơ cấu trong quá trình bảo trì, bảo dưỡng.

Một số đặc tính cơ bản của mỡ bôi trơn công nghiệp

  • Độ cứng: Với mỡ bôi trơn, độ cứng được coi là một đại lượng đặc trưng cho khả năng chảy và lưu thông của mỡ. Độ cứng được đo theo tiêu chuẩn ASTM D 217, độ xuyên kim của mỡ và thường được qui chuẩn theo cấp NLGI. Cấp NLGI - National Lubricants and Greases Institute phân biệt độ cứng của mỡ.

Cấp NLGI

Độ xuyên kim theo DIN-ISO 2137 (mmx0.1)

Cấp NLGI

Độ xuyên kim theo DIN-ISO 2137 (mmx0.1)

0000

490/520

2

265/295

000

445/475

3

220/250

00

400/430

4

175/205

0

355/385

5

130/160

1

310/340

6

85/115

Bảng 1: Sự liên quan giữa độ cứng và độ xuyên kim tương ứng
  • Nhiệt độ chảy giọt:  là nhiệt độ cao nhất mà tại đó mỡ bôi trơn bắt đầu có sự chuyển hóa từ dạng bán rắn sang dạng lỏng, đại lượng đặc trưng cho sự ổn định nhiệt của mỡ. Nhiệt độ chảy giọt là nhiệt độ mà tại đó xảy ra sự suy giảm hoặc phá hủy các chất phụ gia, chất làm đặc, sự tách dầu… của mỡ chứ không phải là một đại lượng dùng để xác định nhiệt độ làm việc giới hạn trên của mỡ.

 

Viết bình luận

Bạn đã gửi bình luận thành công. Xin cảm ơn!